image banner
THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN: Những điểm mới của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015

(Ngoquyen.haiphong.gov.vn) - Luật Nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 19-6-2015 là sự điều chỉnh cần thiết để kịp thời khắc phục những bất cập của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (sửa đổi, bổ sung năm 1990, năm 1994 và năm 2005), đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, ngày 30 tháng 12 năm 1981 và tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1994, 2005 (sau đây gọi tắt là Luật cũ), là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc; nhờ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của quân nhân được bảo đảm và không ngừng được nâng cao, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các quy định của Luật cũ về đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ; độ tuổi gọi nhập ngũ; đối tượng tạm hoãn gọi nhập ngũ, miễn gọi nhập ngũ trong thời bình; chế độ, chính sách về thực hiện nghĩa vụ quân sự,... đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập, thậm chí có một số quy định còn gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện, ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân.

Từ thực trạng đó, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, ngày 19-6-2015 đã thông qua Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) và ngày 03-7-2015, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Lệnh công bố; Luật có hiệu lực từ ngày 01-01-2016. Luật này đã thể chế đầy đủ, toàn diện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; tạo điều kiện giải quyết tốt hơn vấn đề công bằng xã hội về thực hiện nghĩa vụ quân sự; bảo đảm tính khả thi và sự thống nhất về nội dung của Luật này với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới trong thời gian qua, như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 2014), Luật dân quân tự vệ (2009), Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật hiện hành, v.v.

So với Luật cũ, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 (gọi tắt là Luật mới) đã được sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện. Cụ thể, về kết cấu, Luật mới gồm 09 chương, 62 điều; so với Luật cũ, giảm 02 chương, 09 điều do bỏ chương “Việc phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp” gồm 04 điều (sẽ có luật riêng), 10 chương còn lại viết gọn thành 09 chương, không có điều nào được giữ nguyên. Về nội dung, Luật mới cơ bản kế thừa có chọn lọc Luật cũ, sắp xếp, trình bày một cách chặt chẽ, khoa học hơn và đã sửa đổi, bổ sung một số vấn đề đáng chú ý sau:

1. Kéo dài độ tuổi gọi nhập ngũ đối với sinh viên được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học.

Luật Nghĩa vụ quân sự cũ quy định độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình cao nhất là hết 25 tuổi, dẫn đến tỷ lệ công dân có trình độ cao đẳng, đại học tham gia thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ thấp; khi hoàn thành chương trình đào tạo, nhiều trường hợp đã đến tuổi 25. Mặt khác, những công dân không học cao đẳng, đại học thì phải thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ ngay từ khi đủ 18 tuổi, nên đã tạo ra sự bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự. Do vậy, để nâng cao chất lượng công dân nhập ngũ và hạn chế sự bất bình đẳng, Điều 30 của Luật mới, ngoài quy định chung độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình giống như Điều 12 của Luật cũ, còn bổ sung thêm: “công dân đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi”.

So với Điều 12 của Luật cũ, thì Điều 30 Luật mới còn có sự thay đổi đáng chú ý là: cụm từ “Công dân nam đủ mười tám tuổi” được thay bằng cụm từ “Công dân đủ 18 tuổi”, để thể hiện công dân nữ đủ 18 tuổi cũng có thể nhập ngũ, đáp ứng yêu cầu, nguyên tắc bình đẳng giới; tạo điều kiện cho công dân nữ rèn luyện và trưởng thành trong môi trường quân đội, góp phần tạo nguồn cán bộ nữ cho địa phương. Điều 4 của Luật cũ “Công dân nữ có chuyên môn cần cho quân đội, trong thời bình, phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và được gọi huấn luyện; nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ”, được khoản 2 Điều 6 của Luật mới sửa thành “Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời bình nếu tự nguyện và quân đội có nhu cầu thì được phục vụ tại ngũ”.

2. Thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ.

Điều 21 của Luật mới quy định thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng; trong khi đó, Điều 14 của Luật cũ quy định thành 2 mức: 18 tháng dành cho hạ sĩ quan và binh sĩ nói chung; 24 tháng dành riêng cho hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trên tàu hải quân. Đây là sự sửa đổi hợp lý, vì thời hạn phục vụ tại ngũ 18 tháng như trước chỉ bảo đảm thời gian huấn luyện chiến đấu đến cấp phân đội; mặt khác, để tồn tại 2 hạn mức phục vụ tại ngũ cũng tạo ra sự thiếu công bằng. Quy định như trong Luật mới sẽ bảo đảm đủ thời gian huấn luyện quân sự, kỹ thuật, chiến thuật, giáo dục chính trị; qua đó, giúp cho quân nhân nâng cao được bản lĩnh chiến đấu, kỹ năng khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, nâng cao được chất lượng lực lượng dự bị động viên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở; khắc phục được sự bất bình đẳng và tiết kiệm được ngân sách Nhà nước.

3. Hằng năm, gọi công dân nhập ngũ một lần vào tháng hai hoặc tháng ba. Theo Luật cũ, tại Điều 21 quy định việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần và không ghi thời gian cụ thể (Chính phủ sẽ quyết định trong từng năm); còn trong Điều 33 của Luật mới quy định rõ, hằng năm, gọi công dân nhập ngũ một lần vào tháng hai hoặc tháng ba; đồng thời, Điều 40 của Luật mới cũng quy định cụ thể “Thời gian khám sức khỏe từ ngày 01 tháng 11 đến hết ngày 31 tháng 12 hằng năm”. Những quy định cụ thể như vậy của Luật mới sẽ tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong xây dựng, thực hiện kế hoạch khám tuyển và gọi công dân nhập ngũ hằng năm; người công dân trong diện nhập ngũ cũng chủ động sắp xếp thời gian, công việc để kịp thời có mặt khám sức khỏe và thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ đúng hạn định.

4. Tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ. Tạm hoãn gọi nhập ngũ được quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật cũ và tại khoản 1 Điều 41 của Luật mới. Qua so sánh cho thấy, Luật mới đã bổ sung thêm diện tạm hoãn “trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận” và “Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%”. Tuy nhiên, Luật mới bỏ đối tượng “đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước,..” được tạm hoãn; đặc biệt, đối với học sinh, sinh viên diện tạm hoãn thu hẹp hơn, cụ thể: “Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo”. Như vậy, Luật mới chỉ xét tạm hoãn đối với học sinh phổ thông, sinh viên trúng tuyển và nhập học bậc đại học, cao đẳng thuộc hệ chính quy, còn sinh viên trúng tuyển vào các trường không thuộc hệ chính quy thì không được xét tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Đồng thời, nhằm tránh tình trạng một số công dân lợi dụng chính sách tạm hoãn gọi nhập ngũ để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, tại khoản 3 Điều 41 của Luật mới bổ sung thêm: “Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ”.

Đối tượng được miễn gọi nhập ngũ quy định cụ thể tại khoản 2 điều 29 và Điều 30 của Luật cũ, Luật mới chỉ quy định tại khoản 2 Điều 41. Ngoài những đối tượng được miễn gọi nhập ngũ như Luật cũ quy định, Luật mới bổ sung thêm các đối tượng sau: “một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên” và “Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân”.

5. Công nhận thực hiện nghĩa vụ quân sự và hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Đây là nội dung hoàn toàn mới, nhằm bảo đảm bình đẳng về địa vị pháp lý đối với những công dân phục vụ trong một số lĩnh vực liên quan đến quân sự, quốc phòng. Tại khoản 3 Điều 4 quy định: “Công dân phục vụ trong lực lượng Cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ”, và tại khoản 4 của điều này nêu rõ các trường hợp được công nhận hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình. Đó là, dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực; hoàn thành nhiệm vụ tham gia Công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức, sinh viên tốt nghiệp đại học trở lên, đã được đào tạo và phong quân hàm sĩ quan dự bị; thanh niên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp tình nguyện phục vụ tại đoàn kinh tế - quốc phòng từ đủ 24 tháng trở lên theo Đề án do Thủ tướng Chính phủ quyết định; công dân phục vụ trên tàu kiểm ngư đủ 24 tháng trở lên.

6. Đăng ký nghĩa vụ quân sự và quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chương II của Luật mới có nhiều nội dung được bổ sung và quy định cụ thể hơn so với Chương VIII của Luật cũ, như: nguyên tắc đăng ký nghĩa vụ quân sự, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung, khi thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, học tập, tạm vắng, đăng ký miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến; đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị; đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự, v.v. Việc bổ sung, sửa đổi các quy định trên, nhằm đơn giản hóa về thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Đặc biệt, trong chương này đã bổ sung các điều hoàn toàn mới, đó là: Điều 13 “Đối tượng không được đăng ký nghĩa vụ quân sự”, Điều 14 “Đối tượng miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự”, Điều 19 “Đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự”.

7. Chế độ, chính sách. Để động viên, khuyến khích công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự, Luật mới bổ sung nhiều chính sách ưu đãi. Trong đó có những điều hoàn toàn mới, như Điều 49 “Chế độ chính sách của công dân trong thời gian đăng ký nghĩa vụ quân sự, khám, kiểm tra sức khoẻ” quy định: công dân trong thời gian thực hiện những nhiệm vụ trên sẽ được bảo đảm chế độ ăn, ở, tiền tàu xe đi, về và được trả lương cho ngày nghỉ để khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự.

Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian phục vụ tại ngũ, so với Điều 53 của Luật cũ, thì Điều 50 Luật mới bổ sung: được tạm hoãn trả và không tính lãi suất khoản vay từ Ngân hàng chính sách xã hội mà trước khi nhập ngũ là thành viên hộ nghèo, học sinh, sinh viên theo quy định của pháp luậtđược ưu tiên trong tuyển sinh quân sự. Điều chỉnh về hưởng thêm phụ cấp quân hàm, bỏ mức: “Từ tháng thứ mười chín trở đi…”, chỉ giữ nguyên mức “Từ tháng thứ hai mươi lăm…” như trong khoản 3 Điều 53 Luật cũ. Khi xuất ngũ, được cộng điểm trong tuyển sinh, tuyển dụng công chức, viên chức; trong thời gian tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của ngạch tuyển dụng tương ứng với trình độ đào tạo.

8. Các hành vi bị nghiêm cấm. Đây là nội dung hoàn toàn mới, được quy định tại Điều 10 của Luật mới. Theo đó, những hành vi bị nghiêm cấm là: trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự; chống đối, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự; gian dối trong khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về nghĩa vụ quân sự; sử dụng hạ sĩ quan, binh sĩ trái quy định của pháp luật; xâm phạm thân thể, sức khỏe; xúc phạm danh dự, nhân phẩm hạ sĩ quan, binh sĩ./.

 

Tin liên quan
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
TIN MỚI NHẤT
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0